LIỆU PHÁP MÀU SẮC, cùng vài năng lực đặc biệt của người họa sĩ – Kỳ 2

June 11, 2020 § 2 Comments

Tác phẩm "Blue Notes III" của nữ họa sĩ Lisa Audit, sưu tầm bởi ThS. Phan Nguyễn Khánh Đan

Tranh của nữ họa sĩ Lisa Audit.

* Tác giả: Faber Birren
* Dịch giả: ThS. Phan Nguyễn Khánh Đan

[ FABER BIRREN được tạp chí American Magazine miêu tả là “Sherlock Holmes của màu sắc.” Không như các họa sĩ khác lẫn giới nghệ sĩ nói chung – những con người thích phiêu với màu sắc bằng tâm hồn bay bổng, lãng mạn và bất quy tắc, ông làm việc với màu sắc bằng cái đầu lạnh, lý trí và khoa học.

Vào năm 1954, doanh nhân kiêm ông trùm truyền thông Condé Nast mời Faber Birren cố vấn cho tạp chí House and Garden của mình. Và Nast bất ngờ khi chứng kiến quý ông Birren sử dụng máy vi tính, các thuật toán và công nghệ hiện đại để phân tích doanh số bán sơn nội thất và dự báo các xu hướng màu sắc của thị trường… ]

Kỳ 2:
LỊCH SỬ LIỆU PHÁP MÀU SẮC –
– Quan niệm hiện đại

Trải qua nhiều thế kỷ, những quan niệm kỳ lạ kể trên bất ngờ bị thách thức bởi những kẻ săn vi trùng. Khi mọi bí ẩn về bệnh tật được làm sáng tỏ dưới lăng kính hiển vi, con người rũ bỏ mọi quan niệm thần bí và mê tín dị đoan mình từng có về màu sắc, để rồi suốt một thời gian dài sau đó, các liệu pháp chữa bệnh bằng màu sắc chìm vào quên lãng.

Liệu pháp màu sắc bắt đầu được hồi sinh vào cuối thế kỷ mười chín ở Châu Mỹ. Vào năm 1877, S. Pancoast kêu gọi sự quan tâm của công chúng đối với những tác động tích cực của vài màu sắc nhất định lên sự phát triển của thực vật và sức khỏe của động vật. Một năm sau đó, Edwin D. Babbitt cho ra đời cuốn sách Nguyên tắc của Ánh sáng và Màu sắc – một tác phẩm thành công đến mức được tái bản nhiều lần và dịch sang nhiều ngôn ngữ, mang lại danh tiếng xuất thần cho quý ông Babbitt cần cù và đáng ngưỡng mộ. Bất chấp sự chính trực của mình, Babbitt đã thành công trong việc gây chấn động toàn thể cộng đồng y học vốn nổi tiếng cố chấp và lãnh đạm. Ông đã làm nên kỳ tích không tưởng là lôi kéo những cư dân bảo thủ của thời Victoria ra ngoài ánh sáng mặt trời, tạo ra trào lưu xây dựng các công trình lắp cửa sổ tranh kính và hệ thống chiếu sáng bằng kính màu. Nhiều năm trước khi đèn cực tím được phát minh, ông đã nhận ra quyền năng của ánh sáng, và theo nhiều trường hợp nghiên cứu vẫn đang được giới khoa học tranh luận, Babbitt cũng là một thầy thuốc đã thành công trong việc khắc chế nhiều căn bệnh.

Tuy vậy, người thầy thuốc của thời hiện đại luôn giữ một thái độ hoài nghi nhất định. Chẳng hạn, anh ta thừa nhận quyền năng của tia cực tím mỗi khi nhìn vào kính hiển vi và thấy vi khuẩn bị tiêu diệt. Nhưng đồng thời, anh ta lại không có niềm tin vững chắc tương tự đối với tiềm năng của những màu sắc thấy được khác trên quang phổ.

Bất chấp vô vàn phản ứng hoài nghi, nghệ thuật chữa bệnh bằng màu sắc vẫn càng ngày càng được công nhận và được nhiều người đặt niềm tin. Nhiều năm trước, Picton ghi nhận hiệu ứng của ánh sáng và màu sắc trong nhiều ca bệnh đậu mùa. Niels Finsen, một trong những người tiên phong trong việc truyền bá liệu pháp chữa bệnh bằng ánh sáng, khám phá ra rằng tình trạng lở loét da không xuất hiện dưới ánh sáng đỏ. Tuy nhiên, riêng trong trường hợp này, màu đỏ lại là một liệu pháp đảo nghịch. Ánh sáng nói chung có hại cho da của bệnh nhân đậu mùa; trong khi màu đỏ đảo ngược quy luật đó, thế nên nó trở thành có lợi.

Tác giả [ Faber Birren ] muốn lưu ý độc giả rằng họ không nên nghiêm trọng hóa những thông tin về liệu pháp màu sắc trong chữa bệnh được ông ta viết ra ở đây. Những kiến thức này được ông tổng hợp từ y văn, chủ yếu từ các tác phẩm và tài liệu được xuất bản ở nước Anh, nhằm mục đích chia sẻ một vài năng lực kỳ diệu của màu sắc có nhiều triển vọng sẽ trở thành một bộ phận của y học trong tương lai.

Chân dung Faber Birren thực hiện bởi nữ họa sĩ Cheryl Chalmers

Chân dung Faber Birren dưới nét cọ của nữ họa sĩ Cheryl Chalmers.

Ánh sáng đỏ đã và đang được ứng dụng để điều trị chứng viêm quầng, chứng mày đay (nổi mề đay), sốt tinh hồng nhiệt, sởi, chàm bội nhiễm. Ánh sáng hồng ngoại và ánh sáng đỏ có tác dụng làm tiêu các vết bỏng gây ra do bức xạ cực tím, và có thể được dùng để điều trị rạn xương. Cũng vì màu đỏ có khả năng làm nóng các mô tế bào và làm giãn nở mạch máu, mà trong các bài viết của mình đăng trên tạp chí British Journal of Physical Medicine, nhà khoa học R. Douglas Howat bàn luận giá trị của nó đối với việc điều trị chứng đau lưng, viêm khớp, và viêm dây thần kinh.

Trong khi đó, màu xanh lam lại có các đặc tính diệt khuẩn. Nó được cho là có tác dụng thúc đẩy sự sản xuất khí carbonic ở một số loài động vật máu lạnh, trong khi màu đỏ phát huy tác dụng tương tự nhiều nhất ở chim và động vật gặm nhấm. Moleschott đã chứng minh được rằng ánh sáng nói chung có tác dụng tăng cường quá trình loại thải acid carbonic ở động vật. Màu xanh lam từng được kê toa để chữa trị các cơn đau đầu “như búa bổ”, chứng cao huyết áp có nguồn gốc từ hệ thần kinh, và chứng mất ngủ kinh niên. Tác dụng của nó là trực tiếp hay gián tiếp (thông qua mắt hoặc cảm xúc) hiện là một vấn đề cần được nghiên cứu thêm.

Theo một số nhà nghiên cứu tên tuổi, màu vàng có tác dụng gia tăng huyết áp, có thể được ứng dụng với chứng thiếu máu, suy nhược thần kinh, và các chứng suy nhược nói chung. Khi màu vàng được sử dụng trên vùng bụng, nó được cho là có tác dụng kích thích sự tiết dịch vị.

Trong nhiều thí nghiệm khác, ánh sáng đỏ và ánh sáng cực tím là hai trong số vài đề tài gây ra nhiều phản ứng trái chiều nhất trong giới nghiên cứu. Ludwig và von Ries tin rằng mỗi vùng trên quang phổ có tác động khác nhau đối với hormone trong cơ thể người, và có thể trong một tương lai không xa, các vấn đề nội tiết có thể được điều trị hiệu quả hơn nhờ vào những tiến bộ trong lĩnh vực quang sinh học.

Có thể y học hiện đại chưa sẵn sàng tiếp nhận tác dụng trị liệu trực tiếp của màu sắc, nhưng nó đã và đang ứng dụng các tri thức của liệu pháp màu sắc trong công tác chẩn đoán. Nhiều năm trước, trong một bài báo đăng trên tạp chí American Journal of Clinical Medicine (tháng 12 năm 1907), Tiến sĩ John Benson nhận định rằng nhìn chung, lưỡi có màu trắng là biểu hiện cho thấy cơ thể cần được bổ sung chất kiềm, trong khi đó, người có lưỡi màu đỏ sáng cần thu nạp thêm các chất có tính acid. Ông nhấn mạnh rằng lưỡi có màu đỏ thẫm thường là một dấu hiệu của tình trạng truyền nhiễm, lưỡi màu đỏ nâu báo hiệu bệnh thương hàn. Theo ông, nếu lưỡi bạn trở nên rộng, dẹt và mềm nhũn, có khả năng bạn đang mắc phải một vấn đề về đường ruột và dạ dày.

Sự thay đổi màu sắc của da còn có nhiều ý nghĩa hơn cả. Benson trình bày cả một danh sách thú vị như sau:

Nếu da bỗng dưng có vẻ dày hơn, dễ bẩn, và xỉn màu (trong khi mặt ửng đỏ và mũi phồng), đó có thể là dấu hiệu của tình trạng nhiễm độc huyết tự động.

Da vàng vọt: các vấn đề liên quan đến gan.

Da tái nhợt như sáp và ngả màu xanh lá cây, môi tím tái: bệnh thiếu máu.

Trên da xuất hiện những đốm màu đỏ bầm, thường ngả sang màu tím: thương tổn liên quan đến phổi, viêm phổi.

Trong một số bệnh tật từng được ghi nhận, khả năng nhìn hoặc phân biệt màu sắc của thị giác người bệnh có thể bị ảnh hưởng: Họ nhìn thấy mọi vật với màu sắc nhạt hoặc mờ hơn đáng kể so với người bình thường. Chẳng hạn như ở bệnh vàng da, cả thế giới như được phủ một lớp màu vàng trong mắt người bệnh. Tầm nhìn phủ màu đỏ là một biểu hiện có thể xảy ra ở tình trạng xuất huyết võng mạc hoặc chói tuyết ở mắt. Tầm nhìn ngả vàng có thể là biểu hiện của ngộ độc ký ninh hoặc ngộ độc mao địa hoàng. Tầm nhìn ngả xanh lá cây có thể do thương tổn giác mạc. Tầm nhìn ngả xanh lam được phát hiện trong nhiều ca bệnh liên quan đến chứng nghiện rượu. Trong các trường hợp tổn thương ám điểm do thuốc lá, tầm nhìn có thể ngả màu đỏ hoặc xanh lá cây.

Trong các ca ngộ độc santonin, ban đầu người bệnh có thể nhìn thấy môi trường xung quanh ngả xanh lam. Tiếp sau đó là tầm nhìn ngả vàng với thời lượng lâu hơn, rồi màu vàng chuyển sang màu tím trước giai đoạn hồi phục. Sau phẫu thuật đục thủy tinh thể, bệnh nhân có thể trải qua một giai đoạn tầm nhìn ngả đỏ, thi thoảng ngả xanh lam sau đó trước khi phục hồi hoàn toàn.

*Kỳ tới: Màu sắc chi phối các phản ứng của cơ thể người như thế nào?

*Xem lại kỳ trước: Chữa bệnh bằng màu sắc vào thời cổ đại.

FABER BIRREN
ThS. Phan Nguyễn Khánh Đan

.

Tagged: , , , , , , , , , , , , , , , ,

§ 2 Responses to LIỆU PHÁP MÀU SẮC, cùng vài năng lực đặc biệt của người họa sĩ – Kỳ 2

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

What’s this?

You are currently reading LIỆU PHÁP MÀU SẮC, cùng vài năng lực đặc biệt của người họa sĩ – Kỳ 2 at PHAN NGUYỄN KHÁNH ĐAN .

meta

%d bloggers like this: